TINH DẦU HỒI
TINH DẦU HOA HỒI
Cây hồi, còn có tên đại hồi, đại hồi hương, bát giác hồi hương, tiếng Bắc Kinh gọi là Bajiao (có nghĩa là "tám cánh"), tên khoa học là Illicium verum, thuộc họ hồi (Illiaceae), thường bị nhầm với cây hồi Nhật Bản (Illicium anisatum) hoặc cây hồi núi (Illicium griffithii) là những loại cây tương tự nhưng không ăn được do chúng đều có chất độc. Ngoài ra, còn có cây tiểu hồi (Foeniculum vulgare, họ Apiaceae) được di thực từ các nước vùng Địa Trung Hải về trồng ở Việt
Nhiều thế hệ các dân tộc Lạng Sơn đều không biết hồi có từ bao giờ, chỉ biết đó là loài cây trồng rộng rãi trong các gia đình ở hầu khắp các huyện, trở thành một nghề trồng cây đặc sản có truyền thống lâu đời. Rừng hồi là bất động sản trong mỗi gia đình như đất ruộng, đất vườn. Nhà dân tộc học người Nùng Lạng Sơn - PGS. TS. Hoàng
Tìm hiểu sâu hơn về kiến thức văn hóa bản địa Tày - Nùng, cây hồi đi vào đời sống tinh thần, đi vào những họa tiết hoa văn, trang trí hình hoa (quả) hồi 8 cánh trên váy áo phụ nữ Tày, Nùng mà các nhà văn hóa gọi là hoa văn hoa hồi. Cây hồi cũng đã đi vào đời sống cộng đồng hình thành nên (tạm gọi) hồi lịch, nghĩa là dựa vào các tiết trong năm như là những kiến thức bản địa để dự đoán năm được mùa, mất mùa hồi, thời gian ra hoa kết quả sớm muộn, lịch thu hái hồi.
1.1 Đặc tính thực vật
Cây nhỡ, cao 6-10m. Thân thẳng to, cành thẳng nhẵn, lúc non màu lục nhạt sau chuyển sang màu nâu xám. Lá mọc so le, phiến lá nguyên, dày, cứng giòn, nhẵn bóng, dài 8-12cm, rộng 3-4cm, hình mác hoặc trứng thuôn, hơi nhọn dần, mặt trên xanh bóng hơn mặt dưới. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, có khi xếp 2-3 cái; cuống to và ngắn; 5 lá đài màu trắng có mép màu hồng; 5-6 cánh hoa đều nhau màu hồng thẫm. Quả kép gồm 6-8 đại (có khi hơn), xếp thành hình sao, đường kính trung bình 2,5-3cm, lúc non màu lục, khi già màu nâu sẫm, mỗi đài dài 10-15mm, có mũi nhọn ngắn ở đầu. Hạt nhỏ hình trứng, màu nâu nhạt, nhẵn bóng, nằm ở chính giữa mỗi đại khi nứt làm hai.
1.2 Phân bố, thu hái
Ở Trung Quốc, đại hồi chỉ mọc ở 4 tỉnh là Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Vân Nam, cung cấp 90% tổng sản lượng toàn cầu.
Ở Việt Nam, cây hồi được trồng ở các tỉnh phía bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng (các tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên có trồng song diện tích và sản lượng không đáng kể). Với diện tích khoảng 15.000 ha cây hồi và khả năng khai thác từ 5.000 - 6.000 tấn/năm, Việt Nam đã từng xuất khẩu hồi sang Pháp, Đức, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan... Ngoài ra cây hồi còn được trồng ở Philippin và
Quả hồi (dân gian gọi là hoa hồi) được thu hoạch trong khoảng thời gian từ tháng 7-9 hay tháng 11-12, sau đó đem tách ra từng mảnh, bỏ hạt, rửa sạch rồi phơi trong mát hoặc nắng nhẹ cho khô hẳn. Khi dùng, có thể đem tẩm rượu sao (cách giấy) hoặc tẩm nước muối sao qua (cách giấy), cũng có thể đem chưng cất lấy tinh dầu.
1.3 Cách trồng và chăm sóc
Ở Việt
1.3.1 Kĩ thuật giống
Tại Lạng Sơn quả chín tháng 10 - 11(vụ đông) và tháng 5 - 6 (vụ hè). Tuy nhiên, thông thường chỉ thu hái quả vào vụ đông, sau tiết sương giáng. Thu hái quả khi quả chuyển sang mầu vàng nhạt, hạt bên trong mầu nâu đậm, bóng, nội nhũ bên trong trắng và cứng.
Quả sau khi thu hái ủ thành đống cho chín đều 2-3 ngày, sau đó phơi trong nắng nhẹ cho tách hạt. Khoảng 30 kg quả được1 kg hạt. Hạt mới có khoảng 8.000 - 11.000 hạt/kg, hàm lượng nước ban đầu 34%. Tỷ lệ nảy mầm ban đầu rất thấp do hạt có tính ngủ. Sau khi bảo quản trong điều kiện ẩm lạnh trong vài tháng tỷ lệ nẩy mầm có thể đạt tới 78%.
Hạt được trộn với cát ẩm đưa vào bảo quản ở nhiệt độ thấp hoặc ở nơi lạnh. Thời hạn bảo quản có thể được 5-6 tháng.
Ngâm hạt trong nước lã 8 giờ trước khi gieo. Hạt nảy mầm chậm, rải rác do có tính ngủ. Thời gian nảy mầm từ 45 - 80 ngày.
Hoa hồi Quả hồi
1.3.2 Kĩ thuật trồng
Cây hồi thích nghi với điều kiện khí hậu á nhiệt đới vùng núi ở Việt
Cây hồi ưa đất tốt, giàu mùn, đạm, kali, thành phần cơ giới nặng, giàu hạt sét, tầng đất màu dày 80cm, không có hoặc ít đá lẫn.
Hồi là loài cây ưa ánh sáng nhưng tùy theo độ tuổi mà nhu cầu ánh sáng khác nhau: ở 24 tháng tuổi, cần che 60-80%; ở 3-4 tuổi nếu trồng trên đồi núi trơ trọi, không có cây che bóng thì một số cây bị vàng lá, sinh trưởng còi cọc và có tỷ lệ chết cao. ở giai đoạn 20-30 tuổi là thời kỳ sai quả, hồi là cây trung tính thiên về ưa sáng.
Về nhiệt độ, hồi kém chịu nóng: khi nhiệt độ trên mặt lá hồi đạt 37-38oC kéo dài 2 giờ liền là cây hồi bị táp lá.
Nhu cầu nước của cây hồi biến thiên theo độ tuổi: 3 tuổi - ưa ẩm, không chịu được khô hạn; 20-25 tuổi chịu hạn ở mức độ trung bình và có khả năng thích nghi khá linh hoạt với môi trường úng nước.
Thực tiễn trồng hồi của bà con dân tộc Tày, Dao ở Lạng Sơn thời gian qua cho thấy 5 kinh nghiệm sau:
1. Trồng hồi hỗn loài với cây gỗ trên đất sau nương rẫy của đồng bào Dao ở Bắc Sơn, Lạng Sơn. Đất nương rẫy sau một số vụ lúa, hoa màu hoặc cây công nghiệp ngắn ngày sẽ được trồng hồi. Cây hồi con được trồng dưới tán một số cây gỗ tái sinh tự nhiên sau nương rẫy như re lá, bời lời, dẻ gai, hu đây, ba bét trắng, ba soi. Trong quá trình sinh trưởng, cây hồi dần dần lớn lên và có nhu cầu ánh sáng tăng dần, bà con tiến hành ken chết dần các cây gỗ tự nhiên. Bằng cách này, bà con dân tộc Dao ở Vũ Sơn (huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn) đã trồng được những rừng hồi cho năng suất cao (15.000kg quả tươi/năm/1 ha).
2. Trồng hồi xen tre, vầu của đồng bào Tày ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn. Các rừng tre, vầu được đồng bào trồng xen hồi con; khi hồi đã lớn, có nhu cầu ánh sáng cao hơn thì nó đã vươn lên để chiếm lĩnh tầng cao của tán rừng. Bằng phương thức này, đồng bào đã tạo ra kiểu rừng hỗn loài với tre, vầu với cấu trúc 2 tầng cây.
3. Trồng hồi xen sắn của đồng bào Tày, huyện Bình Gia, Lạng Sơn. Các hộ nông dân Tày đã trồng sắn xen với hồi khi hồi còn nhỏ. Đặc biệt, khi thu hoạch sắn cần thu hoạch vào lúc có thời tiết râm mát và thu hoạch dần dần để tránh tình trạng tán che mở đột ngột làm cho hồi con bị mất nhiều nước có thể bị chết.
4. Trồng hồi xen chè của đồng bào Tày huyện Bình Gia, Lạng Sơn. Dưới tán rừng hồi đã khép tán, vào các năm thứ 3 trồng hồi xen sắn, đến năm thứ 4 và thứ 5 trồng xen chè. Theo kiểu trồng xen này, đồng bào đã tạo ra loại rừng chè hỗn hợp chè + hồi với 2 tầng cây. Tuy vậy, ở một số nơi, bà con còn trồng thêm cây phân xanh họ đậu (cốt khí), dứa. Các băng cây cốt khí, dứa được thiết kế chạy theo đường đồng mức để chống xói mòn, bảo vệ đất. Theo mô hình này, nếu tính cả chè và hồi có thể cho thu nhập 17.000.000 đ/ha/năm (theo giá thị trường năm 1998).
5. Trồng hồi trong các vườn quả gia đình. Cho đến nay, nhiều gia đình đã trồng được vườn cây ăn quả gồm các loại hồng không hạt, mận, quýt ngọt, na dai... Nhân dân đã tiến hành trồng hồi thành những vành đai bao quanh vườn ăn quả tạo thành các băng cây cản gió, bảo vệ vườn quả.
Các kinh nghiệm trồng hồi kể trên của đồng bào dân tộc Tày, Dao ở Lạng Sơn đã được khoa học và thực tiễn xác minh là đúng đắn, có thể mở rộng ra toàn tỉnh Lạng Sơn và một số địa phương lân cận.

1.4 Thành phần hóa học

Thành phần hóa học chính trong quả hồi là tinh dầu, nếu cất bằng phương pháp kéo hơi nước từ quả hồi tươi sẽ thu được hàm lượng 3-3,5%. Nếu để khô, hàm lượng đạt 9 - 10%.
Tinh dầu là chất lỏng không màu hoặc vàng nhạt, khá sánh, có mùi thơm đặc biệt, chứa 80-90% anethol, còn lại là các terpen, terpineola, pinen, dipenten. limonen,… Trong lá hồi cũng chứa chủ yếu là tinh dầu nhưng độ đông đặc hơi thấp hơn, không được dùng làm thuốc. Hạt hồi không mùi, chỉ có dầu béo.
Sự phân bố tinh dầu trong các bộ phận của cây:
Hoa + +
Lá +
Cành +
Rễ 0
Quả + + +
+ + +: hàm lượng và phẩm chất dầu đủ tốt để khai thác
+ + : hàm lượng tinh dầu thấp nhưng phẩm chất vẫn đảm bảo
+ : hàm lượng tinh dầu thấp nhưng không đảm bảo phẩm chất
0 : hầu như không có tinh dầu
Ở nhiệt độ 15oC, tinh dầu hồi hoàn toàn đông đặc, và ở 18oC hoàn toàn lỏng.
Tỉ trọng ở 15oC: 0,980 - 0,990.
Chỉ số chiết quang: 1,553 - 1,557
Độ quay cực: -2o - +1o, cho dung dịch hoàn toàn trong với 3 thể tích cồn 90o
1.5 Công dụng
Quả hồi là một loại đặc sản quý của Việt
Trong dược liệu, hồi là quả chín phơi khô của cây hồi. Quả hồi có nhiều cánh nên còn được gọi là hoa hồi.
Tại Việt
Theo Đông y, đại hồi có vị cay, ngọt, tính ôn (ấm), mùi thơm, có tác dụng kiện tỳ, khai vị, trừ đờm, tiêu thực, chỉ thống (giảm đau), sát trùng, vào 4 kinh Can, Thận, Tỳ, Vị. Thường dùng chữa nôn mửa, đầy bụng, đau bụng, tiêu chảy, giải độc của thịt cá, tay chân nhức mỏi. Mỗi ngày dùng 4 - 8g, dạng thuốc hãm, thuốc sắc, hoặc dùng 1 - 4g dạng thuốc bột. Người ta cũng dùng quả ngâm rượu làm thuốc xoa bóp ngoài da. Lá hồi dùng trị rắn cắn (nhai nuốt nước, lấy bã đắp).
Tinh dầu Hồi cũng có tác dụng kích thích, làm dễ tiêu, chống co giật, ức chế sự lên men ruột, gây trung tiện, long đờm và lợi tiểu nhẹ, được dùng chữa đau bụng; là thành phần của thuốc ngậm chữa ho và là thuốc xoa bóp chữa thấp khớp, thuốc chữa đau tai, sát khuẩn, trị bệnh nấm da và ghẻ. Tuy nhiên, không nên dùng quá nhiều sẽ bị ngộ độc với các triệu chứng say, run tay chân, xung huyết não và phổi, có khi co giật như động kinh.
* Một số đơn thuốc:
1. Cảm hàn, đau bụng thổ tả: Dùng hồi hương tán bột uống mỗi lần 2g với rượu, ngày uống 3,4 lần. Hoặc dùng tinh dầu hồi uống mỗi lần 4 giọt, ngày uống 3-4 lần.
2. Hôi miệng, thở hôi: Dùng hoa hồi nhai nuốt, mỗi ngày vài cánh.
3. Đau lưng: hồi (bỏ hạt) tẩm nước muối sao, tán nhỏ, mỗi lần dùng 6-10g với rượu. Ngoài dùng lá Ngải cứu chườm nóng vào lưng.
4. Chữa cổ trướng và thủng trướng mạn tính: Dùng hồi hương 2g và hạt bìm bìm 8g, tán bột, chia làm 2-3 lần uống trong ngày. Uống trong 3-4 ngày liền.
5. Đại tiểu tiện không lợi: hồi và bìm bìm như trên tán bột mỗi lần uống 4g với nước gừng.
6. Trị chứng sán khí (sa ruột) đau hoặc bao tinh hoàn có nước (hydrocele testis): có thể dùng cùng với tiểu hồi làm ấm can thận hoặc phối hợp với Lệ chi hạch cùng sao tán bột mịn uống với rượu hoặc phối hợp với Xuyên luyện tử, Ô dược để hành khí; với Ngô thù du, Nhục quế để làm ấm tỳ thận.
7. Trị chứng đau vùng thắt lưng do thận dương hư: thuốc có tác dụng làm ấm lưng gối. Sách Bản thảo cương mục có
ghi: trường hợp đau lưng như đâm chích dùng thuốc sao tán bột uống với nước muối.
8. Trị đau vùng thượng vị do lạnh: nôn, kém ăn, phối hợp với Mộc hương, Sa nhân, Can khương.
9. Trị chứng bạch cầu giảm do xạ trị hóa trị: Tác giả Giải Vịnh Thanh dùng viên Thang bạch Ninh (chế từ chất chiết xuất của đại hồi quả và lá) uống lúc bụng đói mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 3 viên nhỏ (hàm lượng mỗi viên là 150mg thuốc sống) . Theo dõi điều trị 452 ca, kết quả đối với bệnh nhân giảm bạch cầu do hóa trị là 88,5% và do xạ trị là 87,3%. Đối với chứng giảm bạch cầu không rõ nguyên nhân cũng có kết quả nhất định (Thông báo dược học 1981,5:311).
- Trong mỹ phẩm, tinh dầu hồi làm kem dưỡng da, kem đánh răng, tách anetol rồi từ anetol nhờ phản ứng oxy hóa chuyển thành anisandehyd dùng làm nước hoa, xà phòng thơm...
- Trong nông nghiệp, tinh dầu hồi bổ sung thêm lượng nội tiết hexostrol, detylsilbestrol vào khẩu phần ăn của gia súc thì đàn gia súc sẽ chóng lớn và tăng trưởng đến 30% trong một thời gian ngắn hơn so với bình thường.
- Trong ẩm thực, đại hồi có hương vị như cam thảo nhưng cay và the hơn, là thành phần quan trọng để tạo nên bột ngũ vị hương. Hồi cũng là loại gia vị không thể thiếu trong nồi nước dùng phở, các món tiềm, ninh, hầm, cà ri… vừa để tăng giá trị dinh dưỡng vừa tạo thêm hương thơm cho món ăn.
- Khi dịch cúm gia cầm xuất hiện, hồi càng tăng thêm giá trị do đây là nguồn nguyên liệu quan trọng nhất để sản xuất axit shikimic,thành phần quan trọng cơ bản để sản xuất Tamiflu. Thuốc Tamiflu là tên thương mại của Oseltamivir được tổng hợp từ axít Shikimic, dùng chữa bệnh cúm gia cầm H5N1 (hiện vẫn chưa có thuốc thay thế) mà cả thế giới đang xôn xao về thiếu Tamiflu: Hiện loại thuốc này chỉ có hãng Roche (Thụy Sỹ) độc quyền. Do nhu cầu Oseltamivir của thế giới tăng vọt nên giá Shikimic lên tới 400-600 USD/kg.
|
Cứ 100kg nguyên liệu (quả hồi khô) các nhà khoa học thuộc viện Khoa Học - Công nghệ chiết xuất được 7kg và mục tiêu 9 - 10kg Shikimic. Giá hồi hiện tại Lạng Sơn khoảng 15.000đ/kg hay khoảng 100USD cho 100kg nguyên liệu để sản xuất ra 7kg Shikimic tương đương giá trị 3.000 - 4.000 hoặc 6.000USD trên thị trường thế giới. Việt Phương án về giải quyết thuốc Tamiflu ở Việt Dù là phương án nào, khả năng hiện thực đều lớn vì chúng ta "có thừa" nguyên liệu là rừng hồi. Thống kê năm 2004, diện tích vùng Hồi các tỉnh biên giới phía Bắc là 44.600ha: Lạng Sơn 31.000ha, Cao Bằng 4.200ha, Bắc Kạn 2.700ha và Quảng Ninh 6.500ha (Viện ĐTQHR, 2005). Như vậy, ít nhất cũng có khoảng 15.000 - 20.000 ha rừng Hồi cho thu hoạch với năng suất 0,5 tấn/ha/năm hay 8.000 - 10.000tấn/năm như đã nêu. Tương lai sản xuất thuốc Tamiflu ở Việt Nam là tín hiệu rất đáng mừng cho vùng hồi, hơn thế nữa người trồng hồi cũng có thể hy vọng Việt Nam sẽ là nước xuất khẩu axít Shikimic ra thế giới. - Ngoài ra, theo nhà nghiên cứu bệnh thực vật - David Wedge đã cùng với các cộng tác viên ở Mississippi và Turkey phân loại được 22 chất có trong tinh dầu hoa hồi, đặc biệt đã phát hiện ra hợp chất hữu cơ có tên phenylpropanoids. Phenylpropanoids có trong rất nhiều loài thực vật và được quảng cáo “rùm beng” là rất có lợi cho sức khoẻ của con người, thường được sử dụng để bào chế thuốc kháng viêm. Tuy nhiên, khi phân tích cấu trúc hoá học và hoạt tính sinh học của loại chất này ở hoa hồi, nhóm nghiên cứu đã rất bất ngờ với kết quả thu được: Hợp chất phenylpropanoids có trong hoa hồi là độc nhất vô nhị, không giống như loại chất này ở bất cứ loài thực vật nào khác. Nhờ có phenylpropanoids, hoa hồi đã không bị “tấn công” bởi nấm Colletotrichum - loại nấm làm phân huỷ thực vật. Khi đem hoa hồi thử nghiệm với các loại vi trùng, vi khuẩn thường gặp, kiểm tra chất lượng của hoa hồi thấy không bị thay đổi, điều đó chứng tỏ: Hợp chất phenylpropanoids ở hoa hồi có khả năng vô hiệu hoá hoạt động của các loại vi trùng, vi khuẩn, trong đó có cả trùng gây bệnh sốt rét Plasmodium falciparum. Kết quả nghiên cứu trên đã gợi mở ý tưởng cho các nhà khoa học đưa tinh dầu hoa hồi vào danh sách những dược liệu quý cần tích cực khai thác sử dụng. 2. Phương pháp chiết tách và các hợp chất trong tinh dầu hoa hồi: 2.1 Phương pháp chiết tách tinh dầu hồi 2.1.1 Chưng cất lôi cuốn hơi nước Cách chưng cất truyền thống tinh dầu hồi là chưng cất bằng hơi nước, cách làm rất đơn giản là khi hơi nước có độ nóng nhất định bốc hơi sẽ cuốn theo tinh dầu hồi. Cho nên tinh dầu được chưng cất sẽ có một lượng nước nhất định bị lẫn, làm giảm đi hương thơm đặc trưng của tinh dầu, không bảo đảm chất lượng và mỗi lần chưng cất sẽ cho ra sản phẩm tinh dầu khác nhau, không ổn định. Vì vậy khi đem lượng tinh dầu chưng cất theo lối truyền thống vào sản xuất thì chất lượng sản phẩm sẽ không cao. 2.1.2 Trích ly Quy trình công nghệ trích ly tinh dầu từ quả hồi được tiến hành theo 6 bước: - Bước 1: Lựa chọn nguyên liệụ quả hồi Ở nước ta có 2 loại chính : hồi tứ quý và hồi mùa, theo nghiên cứu thì quả hồi mùa bảo đảm độ ẩm cần thiết cho quá trình trình trích ly hơn quả hồi tứ quý. - Bước 2: Nguyên liệu được đưa vào sấy với độ ẩm 9% - Bước 3: Nghiền mịn nguyên liệu để xác định độ ẩm và độ mịn của nguyên liệu trước khi trích ly. - Bước 4: Sau khi xác định rõ độ mịn và độ ẩm của nguyên liệu, bắt đầu quá trình trích ly bằng phương pháp trích ly động với cồn Etylic 96%, trong 13 giờ và nhiệt độ 60oC, quá trình trích ly được thực hiện 3 lần nhằm cô đặc dung môi vừa trích ly. - Bước 5: Đây là bước rất quan trọng, là quá trình trích ly sản phẩm vừa cô đặc bằng dung môi ete và nước (nhằm làm sạch tinh dầu thô) theo tỷ lệ 1:1 để cho ra sản phẩm tinh dầu hồi. - Bước 6: Xác định lại thành phần các chất trong tinh dầu và chỉ số lý hoá, nhằm đưa ra sản phẩm tốt nhất phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Nhờ độ tinh khiết của sản phẩm cao, quy trình công nghệ cao trích ly tinh dầu hồi thu được có thể bỏ qua khâu tinh chế sản phẩm, giảm bớt thời gian và chi phí sản xuất, nhờ đó giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho việc đa dạng hoá các sản phẩm từ tinh dầu hồi và thu nhận axít Shikimic từ quả hồi. Theo đánh giá của Ts. Bùi Quang Thuật - Viện phó Viện Công nghệ Thực phẩm thì sản phẩm tinh dầu hồi sau khi trích ly có màu vàng rơm, trong, hương vị đặc trưng của quả hồi, có chất lượng tốt hơn tinh dầu hồi đạt chuẩn quốc tế thể hiện rõ nhất là ở nhiệt độ đông đặc ( điểm đông) đạt đến 18,5oC, so với cách chưng cất truyền thống thì hiệu suất cao hơn. 2.2 Các hợp chất có trong tinh dầu hoa hồi - Thành phần hóa học chủ yếu trong tinh dầu hồi là anetol, chiếm 75 - 90% Công thức phân tử: C10H12O Công thức hóa học: CH3O - C6H4 - CH2 - CH = CH2 (parapropenylanisol) - Ngoài ra còn có một số cấu tử khác như:
OH CH2-CH=CH2 + Andehit tanic CH3O - C6H4 - CHO + Axit anic CH3O - C6H4 - COOH + Limonen và một số tecpen khác 2.3 Định lượng anetol Giá trị tinh dầu hồi được xác định bằng hàm lượng anetol. Tinh dầu tốt phải chứa từ 80 đến 90% anetol. Người ta xác định hàm lượng anetol trong tinh dầu hồi bằng cách xác định độ đông đặc của tinh dầu. Tinh dầu hồi đạt tiêu chuẩn chứa 80 đến 90% anetol phải có độ đông đặc giữa 14oC và 18oC.
|
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Bài giảng môn học "Nguyên liệu sản xuất thực phẩm" - ThS Trần Xuân Ngạch - ĐH Bách Khoa Đà Nẵng.
2. Hương liệu và ứng dụng - Văn Ngọc Hướng.
3. http://vi.wikipedia.org
4. Tạp chí Khoa học và Đời sống, Ngày 13/8/ 2000, Số 32, tr.11
5. http://google.com.vn
6. Tinh dầu Việt Nam - GS TS Đỗ Tất Lợi
