star twitter facebook envelope linkedin youtube alert-red alert home left-quote chevron hamburger minus plus search triangle x

Màu Ớt

 

I.Tổng quan về cây ớt

Ớt là loại cây được con người trồng trọt và thu hái từ lâu đời .Với không ít người  ớt là loại gia vị không thể thiếu trong bữa ăn ,giúp làm tăng cảm giác ngon miệng mà nó còn có tác dụng giảm đâu ,giúp máu lưu thông tốt ,chống ung thư tiền liệt tuyến , giảm nôn ói sau phẫu thuật

Để có được vị cay xè, thêm một nắm côn trùng và một ít nấm - lời giải thích của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Washington về nguồn gốc vị cay xè của trái ớt.
Theo họ, vị cay xè của ớt cũng là một cơ chế nhằm bảo vệ hạt giống trước sự tấn công của các loài gây hại. Đây cũng là một trong cách ngăn chặn sự phát triển của một số nấm kí sinh thuộc loài Fusarium (loài nấm gây hại cho cây).

Những loại hoa quả có chứa nhiều chất dinh dưỡng như ớt thường thu hút loài chim, chúng ăn trái và sau đó vô tình giúp phát tán hạt giống đi xa.
Không chỉ có chim mà các loại côn trùng và nấm kí sinh cũng thích loại quả này, và sự tấn công ồ ạt của chúng lại có hại cho cây ớt. Sâu bọ thường đục lỗ trên trái ớt để ăn, sau đó thì nấm lại kí sinh vào bên trong trái qua lỗ sâu ăn để gây hại cho hạt giống.
Khi nghiên cứu loài cây dại, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng độ cay của ớt sẽ tăng lên theo tỉ lệ tương đương với lượng kẻ thù mà nó phải đối phó: càng nhiều sâu bọ tấn công thì ớt càng cay, nếu như xuất hiện nấm kí sinh trong trái thì vị của nó sẽ còn cay hơn nữa. Và ngược lại, vị của ớt sẽ dịu lại nếu như không còn nguy hiểm.
Cây ớt không phải là loại cây duy nhất biết tự bảo vệ mình bằng cách tăng thêm vị. Khi quả cà chua đang lớn, cây cà chua cũng tạo ra vị nhặng để xua đuổi kẻ thù và để giúp bảo vệ quả và hạt giống cho đến lúc chín. Tuy nhiên, ở cà chua, biện pháp bảo vệ này chấm dứt khi quả chín. Còn ớt thì có thể luôn duy trì hương vị cay xè (do loài chim, đối tác giúp phát tán hạt ớt giống) không nhạy cảm với vị cay.

a). Thời vụ trồng ớt:

Ớt có thể trồng được 3 vụ trong năm:

- Vụ sớm: Gieo hạt tháng 8 - 9, thu hoạch từ tháng 12 - 1 dương lịch.

- Vụ chính (Đông Xuân): Gieo hạt tháng 10 - 11, thu hoạch tháng 2-3 dương lịch.

- Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5, thu hoạch 8-9 dương lịch.

b). Giống:

Hiện nay, giống ớt được trồng phổ biến: Ớt Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm...

c). Chuẩn bị đất:

Cày xới phơi đất kỹ, lên luống cao 20cm, rộng 1m. Bón lót: 100kg vôi và 1 tấn phân chuồng, 50kg super lân, 3kg Kali, 2kg Calcium nitrat, 10-15kg phân NPK(16-16-8) cho 1.000m2. Sử dụng màng phủ nông nghiệp để hạn chế cỏ dại, sâu bệnh, giảm hao hụt phân bón, nước tưới.

d). Gieo trồng:

Xử lý hạt ớt bằng nước ấm 3 sôi 2 lạnh (530C) trong 30 phút, hong khô dưới ánh nắng mặt trời, gieo hạt vào bầu đã được xử lý thuốc để ngăn ngừa mầm bệnh, sâu hại tấn công. Khi cây có từ 4-5 lá thật (30-35 ngày sau gieo), thì chuyển cây con ra trồng. Có thể trồng theo khoảng cách: 50 x 30 cm hoặc 70 x 60 cm.

e). Chăm sóc:

- Tưới nước: Mùa mưa cần đảm bảo thoát nước tốt, mùa nắng phải tưới nước đầy đủ. Tưới rãnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt.

- Tỉa nhánh: Tỉa bỏ các cành, lá dưới điểm phân cành để cây ớt phân tán rộng và gốc được thông thoáng. Nên tỉa cành lúc nắng ráo.

- Làm giàn: Giàn được làm bằng cây hay dây ni lông. Giàn giữ cho cây đứng vững, dễ thu trái, kéo dài thời gian thu hoạch, hạn chế trái bị sâu bệnh do đỗ ngã. Mỗi hàng ớt cắm 2 trụ cây lớn ở 2 đầu, dùng dây căng dọc theo hàng ớt nối với 2 trụ cây, khi cây ớt cao tới đâu căng dây tới đó để giữ cây đứng thẳng.

- Bón phân: Phân nên chia làm 4 lần bón

Lần 1: 20 - 25 ngày sau khi trồng: 4kg Urê + 3kg Kali + 10kg NPK (16-16-8) + 2kg Calcium nitrat.

Lần 2: Khi ớt đã đậu trái đều: 6kg Urê + 5kg Kali + 10 - 15kg NPK (16-16-8) + 2kg Calcium nitrat.

Lần 3: Khi bắt đầu thu trái: 6kg Urê + 5kg Kali, 10 - 15kg NPK (16-16-8) + 3kg Calcium nitrat.

Lần 4: Khi thu hoạch rộ: 4kg Urê + 4kg Kali, 10-15kg NPK (16-16-8) + 3kg Calcium nitrat.

Chú ý: Trong giai đoạn nuôi trái, trái ớt thường bị thối đuôi do thiếu canxi. Vì vậy, nhà nông cần phun bổ sung thêm Canxi, có thể bằng Clorua canxi (CaCl2) phun định kỳ 7-10 ngày/lần. Đồng thời, phun thêm phân vi lượng có Bo để ớt dễ đậu trái và ngừa trái bị sẹo.

e ). Thu hoạch:

Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt cả cuống trái, tránh làm gãy nhánh. Ớt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa. Ở các lứa rộ, thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần. Nếu chăm sóc tốt thời gian thu hoạch có thể kéo dài hơn 2 tháng năng suất trái đạt 20-30 tấn/ha.

f). Một số sâu, bệnh thường gặp:

- Bọ trĩ, bọ phấn trắng: Có thể dùng Confidor, Admire... để phòng trị.

- Sâu xanh đục trái: Sâu phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủng quả, khi trái ớt còn xanh cho đến lúc gần chín.

- Sâu ăn tạp: Sâu gây hại trên lá, và cây con. Phòng trị bằng cách ngắt bỏ tổ trứng, tổ sâu non hoặc dùng: Sumicidin, Cymbus, Decis...

- Bệnh héo cây con: Bệnh thường gây hại cây con trong líp ương hoặc sau khi trồng khoảng một tháng tuổi. Dùng Validacin, Anvil, Ridomil; Copper -B,....

- Bệnh héo chết cây: Đối với bệnh do vi khuẩn, cần nhổ và tiêu hủy; dùng vôi bột rãi vào đất, hoặc Starner, New Kasuran, Copper Zin C tưới nơi gốc cây hay phun ngừa bằng Kasumin. Đối với cây bệnh do nấm, cần phát hiện sớm, phun ngừa hoặc trị bằng thuốc Copper B, Derosal, Appencarb super, Ridomil, Score.

- Bệnh thán thư: Có thể sử dụng một số loại thuốc: Copper B, Mancozeb, Antracol, Ridomil,...

2) Thành phần hóa học cơ bản

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc , trong ớt có chứa một số hoạt chất sau

+ Capsicain là một alkaloid chiếm tỉ lệ khoảng 0,05-2% Cấu trúc hóa học được xác định là acid isodexenic vanilylamit có đặc điểm bốc hơi ở nhiệt độ cao , gây hắt hơi mạnh

+ Capsaicin là hoạt chất gây đỏ ,nóng , chỉ xuất hiện khi quả ớt chin chiếm tỉ lệ từ 0,01-0,1%

Công thức của Capsicain

Capsaicin - (8-Methyl-N-vanillyl-trans-6-nonenamide) ( chiếm 65-70%)
Dihydrocapsaicin ( N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-8-methylnonanamide )( chiếm 19-25%)
Nordihydrocapsaicin ( N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-7-methyloctanamide) ( chiếm 5-8%)
Homodihydrocapsaicin ( N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-9-methyldecanamide) ( chiếm 0.4-1.2% )
Homocapsaicin ( (3E)-N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-9-methyldec-7enamide) (chiếm 0.2-0.8%)
+ Trong quả ớt chứa nhiều loại vitamin như vitamin A,E,K,C ,B1, B2 , B3,B5,B6,  axit citric, axit malic, beta carotene, Canxi ,sắt , magie, photpho , ,kali , natri , kẽm , đồng  

3) Tính chất của ớt

-So với cam, ớt có nhiều hơn hẳn các loại Vitamin C, chất sắt, canxi, phốt pho và vitamin nhóm B. Mỗi 100g ớt cay tươi có chứa tới 144mg vitamin C, đứng đầu trong các loại rau tươi.
Lượng vitamin C phong phú có thể khống chế bệnh tim mạch, xơ cứng động mạch và giảm cholesterol, bêta carôtin trong ớt cay có tới 1390 mg, là một trong những nguồn tốt nhất cung cấp carôtin, diệp hoàng tố, các chất này đều là một trong những chất chống oxy hoá và có tác dụng chống cảm mạo, phong hàn.
-Khi cắn một miếng ớt, vị cay kích thích mạnh sẽ làm cho não bộ bài tiết chất hoá học làm giảm bớt đau đớn và sinh ra một chút khoái cảm. Gần đây, đã có người thử dùng ớt cay để chữa trị chứng bệnh đau đầu nghiêm trọng mang tính thần kinh và hiệu quả rất tốt.
Ớt cay không những hữu dụng đối với người bị phong hàn mà trong việc điều chỉnh mỡ máu cũng rất có tác dụng. Các nghiên cứu của nước ngoài đã cho thấy chuột sau khi ăn đồ ăn có ớt, lượng cholesterol trong máu giảm rõ rệt.

-Trong ớt cay có những loại chất đặc biệt có thể đẩy nhanh sự trao đổi chất để đạt được hiệu quả đốt chất béo trong cơ thể nên có tác dụng trong việc giảm béo. Chất này còn có thể thúc đẩy bài tiết hormone nên cũng có tác dụng làm đẹp da.
-Trong ớt cay có rất nhiều vitamin C, nhưng do vitamin C không chịu nhiệt, dễ bị phá vỡ nên khi nấu nướng, phần lớn vitamin C đều hoà tan vào trong thức ăn hoặc bị phân tách.

5) Ứng dụng

Cây ớt trồng trong chậu có thể làm một loại cây cảnh vì quả ớt có nhiều màu sắc: trắng, đỏ, vàng, cam, xanh, tím…tùy theo giống cây. Quả ớt dùng làm gia vị, thực phẩm vì chứa nhiều Vitamin A, Vitamin C gấp 5-10 hai loại sinh tố này có trong cà chua và cà rốt. Chất cay trong quả ớt gọi là Capsaicin (C9H14O2) có công dụng trị bệnh được dùng nhiều trong y học. Ngâm rượu xức ngoài da trị nhức mỏi, sưng trặc gân. Ớt bột trị được chứng say sóng. Ớt bột trộn với quế và đường trị bệnh mê sảng. Các bệnh đau bụng, đau răng, nhức đầu, sưng cổ họng, tê thấp, thần kinh cũng được điều trị bằng ớt. Lá ớt giã nhỏ đắp vào vết thương bị rắn cắn hay các vết lở ngứa ngoài da. Rễ ớt, nhất là ớt hiểm, sắc uống để trị bệnh sốt rét

Một số bài thuốc nam công dụng có ớt

+ Chữa rụng tóc do hóa trị liệu

+ Giảm đau do ưng thư

+ Chữa ăn uống kém tiêu do ung thư

+ Chữa ăn uống chậm tiêu

+ Chữa đau thắt ngực

+ Chữa đau dạ dày do lạnh

+ Chữa viêm khớp mạn tính

+ Chứa bệnh chàm

+ Chứa tai biến mạch máu não

+ Chữa rắn rết cắn

+Chữa bệnh vẫy nến

+ Chữa mụn nhọt

*Một số bài thuốc chữa bệnh

Chữa đau lưng, thấp khớp, đau dây thần kinh: Quả ớt giã nát, ngâm rượu với tỷ lệ 1/2 (một phần ớt tươi, 2 phần rượu) dùng xoa bóp. Có thể lấy hạt ớt phơi khô, tán bột viên làm

cao dán (dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác)...

Chữa trúng phong, răng cắn chặt: Lá ớt tươi (loại ớt chỉ thiên) 30-50 g, giã nát, thêm nước và ít muối, đổ nước vào miệng còn bã đắp vào răng, người bệnh sẽ tỉnh lại.

Chữa sốt rét: Lá ớt tươi 30 g giã nát, hòa với nước đun sôi để nguội, chắt nước cốt uống trước khi lên cơn sốt 2 giờ. Ngày 1 lần, dùng trong 5-7 ngày liền.

Chữa phù thũng: Lá ớt tươi 30-40 g, sao vàng, sắc uống trong ngày.

Chữa rắn rết cắn, côn trùng đốt: Ớt tươi 15 quả, lá đu đủ 3 lá, rễ ớt chỉ thiên 80 g, tất cả giã nát, thêm nước, gạn nước uống, bã dùng đắp lên vết cắn. Nếu là rết và côn trùng đốt dùng lượng ít hơn. Có thể dùng riêng lá ớt tươi lượng vừa đủ giã nát, đắp vào vết cắn. Sau 15-30 phút nếu còn đau nhức làm thêm lần nữa.

Chữa eczema: Lá ớt tươi 30 g, me chua 20 g, hai thứ giã nát đắp, dùng 5-10 ngày là khỏi.

Chữa mụn nhọt, đinh độc, vết thương: Lá ớt, lá na, lá bồ công anh, lá tử vi, lá táo mỗi thứ 10-20 g, giã nát với một ít muối, đắp. Hoặc: Lá ớt, cành xương rồng bà có gai, lá mồng tơi mỗi thứ 5-10 g, giã nát nhuyễn, đắp.

Chữa đau bụng kinh niên: Rễ ớt, rễ chanh, rễ xuyên tiêu mỗi thứ 10 g sao vàng,

sắc uống trong ngày, dùng nhiều ngày.

*Một số loại thuốc từ ớt

Thuốc chứa chiết xuất từ ớt dùng ngoài da dưới dạng cồn, giúp kích thích tại chỗ, làm giãn mạch, làm tan máu bầm, giảm đau.
Đã có nghiên cứu dùng kem chứa hoạt chất capsicain để phong tỏa thần kinh dưới vết thương ở da, trị đau thần kinh do bệnh zona.
Chiết xuất từ ớt kết hợp với các hoạt chất khác đã được dùng khá nhiều trong Tây y dưới nhiều dạng thuốc như:
- Thuốc ngoài da dạng kem: Baume Saint Bernard crème dùng kháng viêm giảm đau kết hợp

với salicylat methyl, long não, menthol.
- Thuốc ống uống: Complex Lehning Euphrasia 115 hoặc 58 dùng trong nhãn khoa.
- Thuốc dạng que chấm lên da: Curoma baton dùng kháng viêm.
- Thuốc viên ngậm dưới lưỡi: Slimum cp sublingual hỗ trợ điều trị béo phì.
*Một số nghiên cứu mới về tác dụng của ớt

+Phương thuốc “nóng” trị đau lưng: Cao dán ớt dùng điều trị các cơn đau như đau lưng, viêm khớp và các cơn đau cơ xương khác. Cao dán giúp cải thiện tuần hoàn máu, thư giãn cơ và giảm cơn đau. Sau khi rửa sạch và lau khô chỗ đau, dán tấm dán lên trong 24 giờ. Trước khi dán, nên thử test trước ở diện tích nhỏ để đề phòng quá nóng gây kích thích da. Cao dán sẽ lan tỏa hoạt chất dưới sức nóng của da. Không dùng với da nhạy cảm hoặc đang bị bệnh ngoài da
+Ớt chống ung thư tiền liệt tuyến: Các nhà khoa học thuộc Trung tâm nghiên cứu y khoa Cedars-Sinai (Mỹ) cho chuột đã cấy tế bào ung thư của người uống dung dịch chứa tinh chất ớt 3 lần/tuần. Họ thấy tế bào ung thư tuyến tiền liệt dần dần bị hủy hoại, quá trình phát triển khối u của tuyến tiền liệt cũng chậm lại.

+Các nhà khoa học của viện đại học Pittburg (Mỹ) thì cho rằng ớt có thể làm chậm quá trình phát triển của tế bào ung thư, đặc biệt với ung thư tuyến tụy. Đó là tác dụng của chất cay capsicain. Chất cay này giữ vai trò xúc tác, làm cho tế bào ung thư tự phá hủy nhưng không gây hại cho các tế bào bình thường.

+Giảm nôn ói sau phẫu thuật: Tinh chất ớt cũng giúp làm giảm tình trạng nôn ói sau các ca phẫu thuật cắt bỏ tử cung. Trong một nghiên cứu, cao dán được đặt vào các huyệt đạo trước khi gây mê và lấy ra 8 giờ sau phẫu thuật. Kết quả là tỷ lệ nôn ói hậu phẫu giảm một nửa.

5) Phương pháp chiết tách

Thực tế trong ớt không chứa duy nhất capsaicin. Ớt có thể chứa:
Capsaicin - (8-Methyl-N-vanillyl-trans-6-nonenamide) ( chiếm 65-70%)
Dihydrocapsaicin ( N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-8-methylnonanamide )( chiếm 19-25%)
Nordihydrocapsaicin ( N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-7-methyloctanamide) ( chiếm 5-8%)
Homodihydrocapsaicin ( N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-9-methyldecanamide) ( chiếm 0.4-1.2% )
Homocapsaicin ( (3E)-N-(4-Hydroxy-3-methoxybenzyl)-9-methyldec-7enamide) (chiếm 0.2-0.8%)
Các chất này không tan trong nước, tan tốt trong cồn và chất béo.
Do đó,để trích ly, chúng ta thực hiện việc hòa tan/bay hơi trong cồn. Để bảo

quản thì hòa tan trong glycerin hoặc dầu ăn.
Các chất này có trong hạt và thịt của trái ớt. Bạn có thể xay ớt ra. Ngâm chúng trong cồn 98 độ trong 1 ngày.Lọc qua giấy lọc. Sấy nhẹ ở 40 độ C cho đến khi bay hơi hết cồn. Bạn sẽ thu được bột sáp vàng.Hòa tan,lọc lần nữa để làm sạch lượng sáp. Khoảng 5 kg ớt sừng trâu có thể thu được 150-300 gram hỗn hợp các chất capsaicin dạng tinh thể không màu hay ở trạng thái sáp đục.
Lưu ý khi thực hiện cần phải đeo mặt nạ có bảo hộ mặt, đeo găng tay.Phòng thí nghiệm phải thoáng khí.Khi sấy,cần sấy trong lò sấy có chế độ hút khí. Không phơi dung dịch cồn chứa chất này ngoài nắng.
6) Tài liệu tham khảo

1. Perry, L. et al. 2007. Starch fossils and the domestication and dispersal of chili peppers (Capsicum spp. L.) in the Americas. Science 315: 986-988.

2. BBC News Online. 2007. Chillies heated ancient cuisine. Friday, 16 February. Available from: http://news.bbc.co.uk/2/hi/americas/6367299.stm. Accessed 16 February 2007.

3. Bosland, P.W. 1996. Capsicums: Innovative uses of an ancient crop. p. 479-487. In: J. Janick (ed.), Progress in new crops. ASHS Press, Arlington, VA.

4. Hjelmqvist, Hakon. “Cayennepeppar från Lunds medeltid”, Svensk Botanisk Tidskrift, vol 89, trang 193-.

5. Heiser Jr., C.B. 1976. Pp. 265-268 in N.W. Simmonds (ed.). Evolution of Crop Plants. London: Longman.

6. Eshbaugh, W.H. 1993. Pp. 132-139 in J. Janick and J.E. Simon (eds.). New Crops. New York: Wiley.

7. Collingham, Elizabeth (2006). Curry. Oxford University Press. ISBN 0-09-943786-4. 

8. “Major Chilli-producing countries”. Online edition of Commodities. Indian Commodity News. Truy cập 24 tháng 8 năm 2007.

9. Mathew A, Gangadharan P, Varghese C, Nair MK (2000). “Diet and stomach cancer: a case-control study in South India”. Eur. J. Cancer Prev. 9 (2): 89–97. doi:10.1097/00008469-200004000-00004. PMID 10830575. 

10. López-Carrillo L, López-Cervantes M, Robles-Díaz G, et al (2003). “Capsaicin consumption, Helicobacter pylori positivity and gastric cancer in Mexico”. Int. J. Cancer 106 (2): 277–82. doi:10.1002/ijc.11195. PMID 12800206. 

11.Archer VE, Jones DW (2002). “Capsaicin pepper, cancer and ethnicity”. Med. Hypotheses 59 (4): 450–7. doi:10.1016/S0306-9877(02)00152-4. PMID 12208187. 

12. López-Carrillo L, Hernández Avila M, Dubrow R (1994). “Chili pepper consumption and gastric cancer in Mexico: a case-control study”. Am. J. Epidemiol. 139 (3): 263–71. PMID 8116601. 

13. Gajda J, Switka A, Kuźma K, Jarecka J (2006). “[Sudan and other illegal dyes--food adulteration]” (bằng Polish). Roczniki Państwowego Zakładu Higieny 57 (4): 317–23. PMID 17713194. 

14. Johnson, Wilbur (2007). “Final report on the safety assessment of capsicum annuum extract, capsicum annuum fruit extract, capsicum annuum resin, capsicum annuum fruit powder, capsicum frutescens fruit, capsicum frutescens fruit extract, capsicum frutescens resin, and capsaicin”. Int. J. Toxicol. 26 Suppl 1: 3–106. doi:10.1080/10915810601163939. PMID 17365137. 

15.Fazekas B, Tar A, Kovács M (2005). “Aflatoxin and ochratoxin A content of spices in Hungary”. Food additives and contaminants 22 (9): 856–63. doi:10.1080/02652030500198027. PMID 16192072. 

16. Vrabcheva TM (2000). “[Mycotoxins in spices]” (bằng Russian). Voprosy pitaniia 69 (6): 40–3. PMID 11452374. 

17. Reddy SV, Mayi DK, Reddy MU, Thirumala-Devi K, Reddy DV (2001). “Aflatoxins B1 in different grades of chillies (Capsicum annum L.) in India as determined by indirect competitive-ELISA”. Food additives and contaminants 18 (6): 553–8. doi:10.1080/02652030010025383. PMID 11407753. 

18. Tricker AR, Siddiqi M, Preussmann R (1988). “Occurrence of volatile N-nitrosamines in dried chillies”. Cancer Lett. 38 (3): 271–3. doi:10.1016/0304-3835(88)90018-3. PMID 3349447. 

19. Milke P, Diaz A, Valdovinos MA, Moran S (2006). “Gastroesophageal reflux in healthy subjects induced by two different species of chili (Capsicum annum)”. Digestive diseases (Basel, Switzerland) 24 (1-2): 184–8. doi:10.1159/000090323. PMID 16699276. 

20.Agarwal MK, Bhatia SJ, Desai SA, Bhure U, Melgiri S (2002). “Effect of red chillies on small bowel and colonic transit and rectal sensitivity in men with irritable bowel syndrome”. Indian journal of gastroenterology : official journal of the Indian Society of Gastroenterology 21 (5): 179–82. PMID 12416746. 

21. Rajaratnam SS, Boyle N, Owen WJ (2001). “'Always chew your chillies': a report of small bowel obstruction with perforation”. Int. J. Clin. Pract. 55 (2): 146. PMID 11321857. 

22 .Gupta PJ (2007). “Red Hot Chili Consumption Is Harmful in Patients Operated for Anal Fissure - A Randomized, Double-Blind, Controlled Study”. Digestive Surgery 24 (5): 354–357. doi:10.1159/000107716. PMID 17785979. 

 

 

 

 

 

A - Z Sitemap

Đào tạo, nghiên cứu gắn liền với khoa học và công nghệ nhằm tạo ra những sinh viên và học viên có lòng yêu nước, có phẩm chất nhân văn mang đậm bản sắc Việt Nam, có ý thức sinh hoạt cộng đồng, có sức khỏe, có năng lực và kỹ năng toàn diện, tự tin, năng động, sáng tạo và trở thành công dân khởi nghiệp mang tính toàn cầu.