star twitter facebook envelope linkedin youtube alert-red alert home left-quote chevron hamburger minus plus search triangle x

MÀU NÂU

 

MÀU NÂU

1. Tổng quan về màu nâu

1.1 Màu sắc

      Màu sắc là cảm giác mang đến cho hệ thần kinh của người từ sự kết hợp tín hiệu của ba loại tế bào cảm thụ màu ở mắt người.

      Màu sắc của một tia ánh sáng là cảm giác màu mà tia sáng đó gây nên ở mắt người.      Màu sắc của các vật thể là màu sắc của ánh sáng xuất phát từ chúng.

      Màu sắc hình thành bởi một số độ dài sóng của phổ Mặt trời. Quả thật ánh sáng trắng chứa đựng các quang bức xạ đỏ, dương, lục... Khi bức xạ đi đến một vật, vật đó có thể phản xạ tất cả : ánh sáng dường như có màu trắng. Nhưng vật ấy cũng có thể chỉ hấp thu một phần, lúc ấy nó sẽ có màu mà nó phản chiếu lại. Như thế, quả cà chua có màu đỏ bởi vì nó hấp thu tất cả ngoại trừ bức xạ đỏ. Thông thường các sắc tố chứa trong mô sẽ hấp thu hay phản xạ những độ dài sóng nhất định. Các chuyên gia gọi đó là màu do sắc tố. Nhưng ngoài ra còn có các màu “vật lý”. Trong trường hợp này, ánh sáng bị phản xạ bởi những “tấm gương” (vảy, lông...). Có điều là một số sóng bị dội lại mạnh hơn và cho ra màu mà chúng ta nhìn thấy được. Một màu thường là sự phối hợp của hiệu ứng sắc tố và hiệu quả vật lý.

      Màu sắc cũng tùy thuộc vào nhãn quan của người quan sát. Đối với mắt chúng ta, hoa mào gà có màu đỏ, trong khi con ong lại chỉ nhận ra màu đen. Nếu chúng ta cảm thụ được những độ dài sóng ánh sáng trong khoảng 400 đến 700 nanômét (từ màu tím đến màu đỏ), loài ong lại không nhận được màu đỏ mà chỉ thấy màu lục, xanh dương và tím. 

      Cũng như nhãn quan, màu sắc đã tinh xảo hơn qua một thời kỳ tiến hóa dài. Nơi loài có xương sống, chính loài cá, lưỡng cư, bò sát và chim muông cảm thụ được sắc màu đầy đủ nhất vì chúng đã có thời gian để hoàn chỉnh việc sản xuất sắc tố. Loài có vú chỉ mới xuất hiện sau này nên khá tẻ nhạt, chúng chỉ có sắc tố mélanine nâu hay đen để trang điểm cho vẻ ngoài của chúng.

      Người ta đã khám phá ra rằng các sắc tố, ngoại trừ mélanine, đều chủ yếu được tổng hợp bởi thực vật. Nhưng làm thế nào mà loài vật có được những sắc tố khác ? “Từ trong thức ăn của chúng - giáo sư sinh học Maurice Pomarède cho biết. Các sắc tố caroténoide có mặt trong tất cả mọi phần của một chuỗi thực phẩm. Nhưng ở mỗi giai đoạn, sắc tố phải chịu các biến đổi hóa học khiến chúng mang một sắc màu khác. Như thế, trong những ao hồ, có loại tảo tích tụ caroténoide khiến chúng có màu đỏ sẫm. chính tảo này làm cho nước có màu đỏ. Đến lượt tảo lại làm mồi cho loài riêu vi ti... màu hồng. Khi ăn riêu, một số loài cá sẽ có màu hồng. Và chim muông ăn cá, thu giữ lại caroténoide. Nhiều chuỗi thực phẩm khác qua côn trùng và loài bò sát trước khi đến với chim muông”.

      Màu  đỏ là màu khá hiếm trong thiên nhiên, bởi vì sự tổng hợp ra sắc tố phản chiếu màu đỏ rất phức tạp. Hơn nữa, sự tổng hợp còn đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Và cần phải có mật độ sắc tố thật cao để có màu đỏ tươi. Do vậy, màu đỏ dường như quá xa xỉ đối với thiên nhiên vốn tiết kiệm. Ngoài ra, không phải lúc nào màu đỏ cũng có lợi. Nó là dấu hiệu mời gọi ở quả dâu tây hay cà chua, biểu thị tình dục ở loài chim cổ đỏ, thông báo hiểm nguy trên loài nấm độc amanite, nhưng nó lại là một lối trang điểm đầy nguy cơ đối với một con vật yếu đuối vì khó mà trốn thoát được kẻ thù. Chính vì thế nên thông thường màu đỏ là màu của giống đực chứ không phải của giống cái.

      Trong thiên nhiên, màu vàng xuất hiện thường nhất vì rất dễ sản xuất. Nhiều loài động vật chọn màu này để báo hiệu về sự độc hại của chúng. Chỉ cần một lượng nhỏ caroténoide, chúng ta sẽ có được một màu vàng chói lọi. Mắt của loài chim ưng có những sắc tố vàng trên võng mạc giúp chúng gia tăng sự tương phản của một số màu để có thể phát hiện ra từ trên cao một con thỏ nâu trên cánh đồng xanh lục. 

      Màu lục chính là màu của sự sống. Sóng ánh sáng này (từ 575 đến 515 nanômét) đặc trưng cho diệp lục tố, loại sắc tố sử dụng quang năng để tạo ra đường và giải phóng oxy. Nhưng dù sắc tố này hầu như rất phổ biến, đa số động vật không biết thu lại sắc tố xanh lục trong thức ăn. Vì thế chúng phải gian dối : một số loài thủy tức trong suốt có chứa trong ruột những phiêu sinh vật màu lục; con culi lại thích nuôi tảo trên bộ lông của chúng... Nhiều loài vật khác pha trộn màu xanh dương với màu vàng. Vì không có sắc tố xanh dương nên chúng sử dụng màu vàng sắc tố với màu xanh vật lý. Chẳng hạn như một số loài rắn và ếch nhái có lớp da rất giàu carotène cho màu vàng, cộng thêm bộ lọc gồm nhiều hạt mélanine đen phản chiếu màu xanh dương : kết quả là chúng có được màu xanh lục.

      Màu xanh dương là màu hiếm hoi nhất trong thiên nhiên. Nếu thực vật có được chút ít sắc tố xanh (anthocyane), động vật lại chẳng hề có.

      Tuy nhiên người ta vẫn thấy vài loài ếch, tôm hùm, bướm và bọ rầy màu xanh dương. Những con vật này phản chiếu và tăng cường ánh sáng xanh. Các “tấm gương” của chúng, đôi khi rất phức tạp, lại chứa sắc tố mélanine.

      Thật khó mà tưởng tượng được rằng sắc tố màu đen này lại tạo ra được các màu sắc tươi đẹp. Thật ra chính sự sắp xếp chính xác những hạt sắc tố mới quan trọng. Nhờ độ dày và cấu trúc của chúng, các sắc tố này lọc ra và tăng cường màu xanh dương lên.    Người ta có được màu tím cũng bằng cách đó, nhưng sắc tố mélanine nâu sẽ thay thế cho mélanine đen.

      Còn màu xanh dương của biển cả giản đơn chỉ do phản chiếu màu của bầu trời. Trời xanh vì phản chiếu nhiều sóng ánh sáng xanh hơn. Nhưng biển chỉ có màu xanh nếu nước trong suốt và cạn. Nếu quá sâu, các tia sáng sẽ bị chặn lại.

      Ở thực vật, khi tiếp xúc với oxy của không khí, một vài loại ancol và phenol sẽ làm cho vỏ cây chuyển thành màu nâu, đó là màu của sự già cỗi. Các chất phenol cũng tạo màu nâu cho những trái cây già hay dập úng.

      Nhưng tại sao thiên nhiên lại sặc sỡ như thế ? Không phải lúc nào màu sắc cũng có vai trò, và có thể chỉ là kết quả của sự ngẫu nhiên. Chất diệp lục không phải được sự tiến hóa chọn lựa vì màu lục của nó, mà vì nó có khả năng chuyển quang năng thành hóa năng.

      Nhưng cũng có nhiều màu sắc biết nói. Nhiều loài hoa mang màu sắc rực rỡ để quyến rũ những loài vật thụ phấn cho chúng, trong khi một số hoa khác lại không màng đến việc trang điểm, chằng hạn như hoa thông. Tạo ra các sắc tố phải cần đến năng lượng, do đó màu chỉ có mặt khi mang lại một lợi ích nào đó.

      Do vậy màu sắc tựa như một ngôn ngữ được cải biên.

1.2 Màu nâu

      Màu nâu là màu tạo ra bởi việc trộn một lượng nhỏ chất màu có màu đỏ và màu xanh lá cây, màu da cam và màu xanh lam, hay màu vàng và màu tía.

      Màu nâu tạo ra cảm giác màu khi có sự tương phản màu sắc cao.

      Trong tiếng Việt, tên gọi của nó có nguồn gốc từ tự nhiên do màu này rất gần với màu của chất chứa tanin chiết ra từ củ nâu, dùng để nhuộm quần áo.

      Màu nâu là màu của một số loại đất phù sa.

      Việt Nam, màu nâu là màu được coi là tượng trưng cho sự giản dị, quê mùa. Màu này là màu của trang phục của nông dân Việt Nam thời phong kiến và là màu của trang phục của các vị tiểu, tăng trong hệ thống Phật giáo Việt Nam.

1.2.1 Màu nâu đen

      Màu nâu đen là chất màu nâu sẫm lấy từ túi mực của con mực, và nó còn được gọi là màu mực hay màu nâu xám sẫm. Màu nâu đen này trong quá khứ được sử dụng như mực viết. Trong những năm cuối thế kỷ 18, giáo sư Jacob Seydelmann từ Dresden đã phát triển một quy trình để chiết và sản xuất dạng đặc hơn để sử dụng trong chế tạo màu nước và sơn dầu.

      Màu nâu đen cũng là màu ưa thích trong công nghệ nhiếp ảnh; màu này có thể thu được với quy trình rửa ảnh để tạo ra sắc nâu vàng. Ánh đỏ mà chúng ta cho là liên quan đến màu nâu đen thực tế là kết quả của sự mờ dần đi theo thời gian. Do đó, màu nâu đen là một thuật ngữ được định nghĩa rất mơ hồ.

1.2.2 Màu nâu tanin

      Màu nâu tanin là màu nâu ánh hung đen. Tên gọi của nó có xuất xứ từ chữ tannum, hay nước ép từ vỏ cây sồi, được sử dụng trong quy trình thuộc da. Kết quả của quy trình này thông thường tạo ra da với màu ‘tanin’

2. Một số thuốc nhuộm thiên nhiên thường dùng để nhuộm nâu

      Nhuộm nâu là cách nhuộm rất phổ biến ở các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, các tỉnh Miền Trung. Để nhuộm màu nâu, nhân dân ta thường dùng các loại thuốc nhuộm từ thiên nhiên như củ nâu, nước chiết từ lá chè, lá bàng, vỏ sồi, vỏ sú, vẹt...là những loại cây có chất chát (tanin).

2.1 Củ nâu

      Củ nâu - tên khoa học là Dioscorea cirrhosa Lour., thuộc họ Củ nâu - Dioscoreaceae, một họ thực vật một lá mầm; họ này ở Việt Nam được biết đến nhiều nhất là củ nâu (Dioscorea cirrhosa), khoai mỡ (Dioscorea alata), củ mài (hay hoài sơn: Dioscorea persimilis) và củ từ (Dioscorea esculenta).

2.1.1 Mô tả đặc điểm:

      Cây thân thảo, dây leo, thân tròn, nhẵn, có nhiều gai ở gốc, có 1-2 củ sống lâu năm dưới đất, mọc từ một mấu ở gốc thân, trên mặt đất, hình tròn, vỏ sần sùi, màu xám nâu, thịt đỏ hay hơi trắng. Lá đơn, hình tim dài độ 20cm, mọc so le ở gần ngọn, có gân hình chân vịt. Quả nang có cuống thẳng, có cạnh. Hạt có cánh xung quanh. Hoa nhỏ, đơn tính khác cây; hoa đực có 6 nhị; hoa cái bầu dưới, 3 ô mỗi ô chứa 2 noãn.

2.1.2 Phân bố:

     Phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, đôi khi gặp ở ôn đới. Cây mọc hoang ở vùng rừng núi của nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh hoá, Nghệ An. Có khi được trồng. Củ thường được bán ở các chợ nông thôn và thành phố. Tuỳ theo màu sắc của nhựa, màu đỏ nhạt, màu xám nhạt, màu vàng nhạt hay hơi hồng, mà người ta gọi tên Củ nâu dọc đỏ, củ nâu dọc trai và củ nâu trắng.

  

 

Củ nâu

1. Cành mang quả; 2. Cành mang hoa; 3. Củ

2.1.3 Bộ phận dùng:

       Củ - Rhizoma Dioscoreae Cirrhosae, thường có tên là Thự lương.

2.1.4 Thành phần hoá học:

      Củ chứa nhiều tanin catechin (đến 6,4%) và có tinh bột.

 

công thức chất catechin trong củ nâu

2.1.5 Công dụng:

- Củ nâu dùng để nhuộm vải.

- Củ nâu có thể dùng để ăn, người ta gọt bỏ vỏ ngoài đem ngâm dưới suối nước chảy nhiều ngày đêm cho hết chất chát, mới có thể dùng luộc ăn.

- Củ nâu có vị ngọt, chua và se, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, cầm máu, hoạt huyết...

   Củ nâu được dùng làm thuốc chữa các chứng tích tụ hòn báng, xích bạch đới, băng huyết, ỉa chảy và lỵ.

   Ở Trung Quốc, Củ nâu dùng chữa:

1. Chảy máu tử cung, xuất huyết trước khi sinh

 2. Ho ra máu, thổ huyết, ỉa ra máu, đái ra máu

 3. Viêm ruột, lỵ

 4. Thấp khớp tạng khớp, liệt nhẹ nửa người. Dùng ngoài trị bỏng, đòn ngã tổn thương, đinh nhọt và viêm mủ da, bị thương chảy máu. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; bên ngoài nghiền củ để đắp.

Đơn thuốc:

1. Chữa phụ nữ tích huyết thành hòn cục; lấy bã Củ nâu (sau khi đã mài với nước vắt lấy nước cốt để nhuộm) sấy khô tán bột uống 8g, ngày 2-3 lần. Hoặc dùng 20g bã Củ nâu sắc uống.

2. Chữa bị thương gãy xương; dùng Củ nâu giã nhỏ để bó và băng nẹp lại, sau khi đã sửa xương lại như cũ.

3. Chữa đi lỵ ra máu mũi; dùng bã Củ nâu đốt tồn tính, tán nhỏ, uống với nước cơm, mỗi lần 3g, ngày uống 3-4 lần.

4. Liệt nửa người; dùng 60g củ ngâm trong 500ml rượu trắng trong 5 ngày, lấy nước chiết uống, ngày dùng 15-30cc trước khi ngủ.

 

2.1.6 Quy trình nhuộm vải bằng củ nâu

      Củ nâu mua về, cạo vỏ, mài hoặc giã nát, sau đó hòa một lượng nước gấp 5 - 6 lần, khuấy đều, để lắng, gạn lấy nước trong, nhúng vải bông khoảng một buổi cho ngấm đều nước chiết, vắt bớt nước, căng phẳng, phơi ra nắng, rồi lại nhuộm tiếp, cứ thế nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần cho đến khi được màu như ý. Dưới tác dụng của ánh sáng, mặt phải sẽ có màu nâu tươi. Lần cuối, muốn cho bóng mượt, nhúng vải vào nước củ nâu đun sôi. Nhuộm đến khi đạt yêu cầu rồi hồ với nước keo da trâu, da bò hoặc nước cháo gạo nếp. Vải nhuộm nâu rất bền với vi sinh vật, tăng thời gian sử dụng nhưng cứng vải.

2.2 Lá chè, vỏ cây sồi...

      PGS.TS Hoàng Thị Lĩnh (ĐH Bách khoa Hà Nội) đã tìm ra công nghệ dùng lá cây chè, vỏ cây sồi (gồm sồi đen, gọi là sồi nhuộm, lớp vỏ trong của cây sồi bấn)... để nhuộm màu nâu cho vải sợi bông và lụa tơ tằm thay cho phẩm màu nhân tạo. Trên thực tế, có rất ít chất nhuộm tự nhiên được sử dụng để nhuộm vải, kể cả các loại tơ tằm, mà thường dùng chất nhuộm tổng hợp, màu sắc nhuộm vừa không bền, vừa gây ô nhiễm môi trường, nếu có dùng chất nhuộm tự nhiên thì chủ yếu là trong cây lá chàm. Đây là công nghệ góp phần bảo vệ môi trường do không cần dùng thuốc nhuộm tổng hợp.

      Phương pháp nhuộm rất đơn giản: nấu lá để lấy dung dịch màu trong lá rồi nhúng vải vào nhuộm, trong dung dịch màu có bổ sung một số chất làm tăng khả năng lên màu, đều màu, bền màu và tạo ra các ánh màu, gam màu khác nhau. Dung dịch màu được tận dụng tối đa vì nước đầu tiên sẽ được dùng để nhuộm màu nâu đậm, những nước còn lại sẽ cho các gam màu nâu nhạt hơn.

 

Vải tơ tằm nhuộm bằng chất màu chiết từ lá chè, chúng có những gam màu khác nhau, từ đậm tới nhạt

      PGS Lĩnh cho biết lá chè già, vỏ cây sồi, hạt lương nho, lá hồng xiêm, lá bàng, lá tre, vỏ cây xà cừ, lá bạch đàn... là những nguồn nguyên liệu dồi dào, mỗi loại có thể tạo ra 5 gam màu khác nhau từ đậm tới nhạt. Kết quả nghiên cứu và thử nghiệm cũng khẳng định các màu tự nhiên này đặc biệt thích hợp với vải tơ tằm. Một phát hiện thú vị nữa trong quá trình nghiên cứu là lá chè có khả năng kháng nhàu cho lụa tơ tằm, lá bằng và bạch đàn làm tăng khả năng kháng khuẩn cho sản phẩm.

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

A - Z Sitemap

Đào tạo, nghiên cứu gắn liền với khoa học và công nghệ nhằm tạo ra những sinh viên và học viên có lòng yêu nước, có phẩm chất nhân văn mang đậm bản sắc Việt Nam, có ý thức sinh hoạt cộng đồng, có sức khỏe, có năng lực và kỹ năng toàn diện, tự tin, năng động, sáng tạo và trở thành công dân khởi nghiệp mang tính toàn cầu.